|
| Trang chủ
|
Hoạt động
|
Dịch vụ tư vấn | An Giang huy động trí tuệ tập thể trong lập kế hoạch 5 năm 2011-2015 | Theo tinh thần Chỉ thị số 06/UBND ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang về Đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội (KHPTKT-XH) năm 2011 và 2011-2015 của tỉnh An Giang và trong khuôn khổ sự trợ giúp kỹ thuật của “Dự án Tăng Cường Năng Lực, Theo dõi và Đánh Giá (DA SI 209-16) do UNICEF tài trợ, cuộc hội thảo “Tham vấn xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 tỉnh An Giang” đã diễn ra tại thành phố Long Xuyên từ ngày 27 đến ngày 28 tháng 5 năm 2010.

Tham gia hội thảo có hơn 60 đại biểu bao gồm ông Phạm Văn Sáu, Phó bí thư Tỉnh uỷ, ông Nguyễn Quốc Khánh, Phó chủ tịch HĐND tỉnh và lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, huyện, thị và thành phố thuộc tỉnh An Giang, đại diện cho các doanh nghiệp và tổ chức xã hội, đại diên của UNICEF tại Việt Nam. Các chuyên gia tư vấn thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách phát triển bền vững (CSDP), Viện Khoa học xã hội Việt Nam đóng vai trò hỗ trợ về chuyên môn. Mục đích của cuộc hội thảo là tạo một môi trường cởi mở và dân chủ để UBND tỉnh lắng nghe và thu thập các ý kiến đóng góp của các sở, ngành, huyện, thị và các doanh nghiệp về xây dựng định hướng phát triển KT-XH giai đoạn 2011 – 2015 tỉnh An Giang. Ông Dương Bình Thạnh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh An Giang đã phát biểu khai mạc và chủ trì ngày hội thảo đầu tiên và ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch UBND tỉnh chủ trì ngày hội thảo thứ hai. Sau khi nghe bài trình bày Tổng hợp đánh giá thực hiện kế hoạch 2006-2010 và định hướng phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 của tỉnh An Giang của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang; bài trình bày về Bối cảnh phát triển của Việt Nam và An Giang giai đoạn 2011-2015 và ý kiến phát biểu của ông Nguyễn Trọng Quang từ UNICEF, các vị đại biểu đã tham gia thảo luận về các vấn đề đầu kỳ, các cơ hội và thách thức, cũng như các định hướng và giải pháp lớn cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2015. Theo báo cáo của Sở KH&ĐT, mặc dù gặp nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới gây ra, đặc biệt là những biến động xấu trên thị trường xuất khẩu lúa và cá, trong 5 năm 2006-2010 tỉnh An Giang đã nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều thành tựu đáng kể như duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao 12%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 20,7 triệu đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt gần 3,2 tỷ USD (các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu năm 2010 là gạo 650-700 ngàn tấn; thủy sản đông lạnh 180 ngàn tấn; rau quả đông lạnh 10.000 tấn; may mặc đạt 10 triệu sản phẩm); Cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, thuỷ lợi, cấp điện, cấp nước, trường học, bệnh xá, chợ được chú ý đầu tư tương đối đồng bộ; Đời sống nhiều vùng nông thôn đã được cải thiện đáng kể so năm 2005; Chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non tốt hơn; Tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2010 giảm xuống dưới 5%; Quy mô giáo dục phát triển, mạng lưới trường lớp từng bước được mở rộng; Tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân đạt 15,58 giường; Số bác sỹ trên 10.000 dân là 5 bác sỹ; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chỉ còn 16,2%; Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi chỉ còn 1% và dưới 5 tuổi là 1,8%; Công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động được quan tâm. Mạng lưới Trung tâm, cơ sở dạy nghề đã phủ kín các huyện, thị xã, thành phố, trong 5 năm, đã giải quyết việc làm cho gần 170.000 lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 34% so tổng số lao động, trong đó đào tạo nghề chiếm 23%. Tuy nhiên, An Giang vẫn còn những hạn chế như công tác đánh giá, dự báo tình hình còn nhiều yếu kém nên nhiều chỉ tiêu đề ra chưa sát thực tế; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, đóng góp của ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế tỉnh còn thấp; tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách còn thấp so bình quân cả nước; chi đầu tư bằng ngân sách còn hạn hẹp. Cơ sở hạ tầng đầu tư chậm, chưa được đầu tư đồng bộ; nguồn vốn đầu tư thuộc các thành phần kinh tế còn hạn chế; công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường tuy có được quan tâm nhưng chưa đáp ứng với nhu cầu phát triển bền vững. Trong bài trình bày của mình, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huân, chuyên gia tư vấn CSDP nêu rõ cũng như các tỉnh khác trong cả nước nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, An Giang đang đứng trước những thách thức to lớn liên quan đến duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá ngày càng mạnh, sự cạnh tranh về lúa và cá từ Cam pu chia, cùng tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Trong qui hoạch chỉnh sửa, Chính phủ đã nêu rõ ”Đến năm 2020, vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng nông nghiệp chất lượng cao, gắn với công nghiệp chế biến nông sản” mà An Giang là 1 trong 4 tỉnh trong vùng phải thực hiện nhiệm vụ này. Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với lãnh đạo và người dân An Giang phải phân tích và nắm rõ bối cảnh phát triển giai đoạn 2011-2015, từ đó xác định được những thách thức và vấn đề đầu kỳ, xây dựng được tầm nhìn và các mục tiêu phát triển mang tính chiến lược nhằm nâng cao qui mô, hiệu quả và chất lượng của nền sản xuất, nâng cao khả cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ; cải thiện môi trường sống, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phần thảo luận của hội thảo được thiết kế theo hai hướng: - Các đại biểu sở, ngành, tỉnh thảo luận bản dự thảo kế hoạch 2011-2015 của tỉnh theo 4 chủ đề: Kinh tế vĩ mô và Phát triển kinh tế; Phát triển văn hoá-xã hội; Y tế-Giáo dục; Quản lý tài nguyên-Bảo vệ môi trường-Quản lý nhà nước - Các đại biểu cấp huyện, thị chia thành 3 nhóm thảo luận theo các chủ đề phát triển đặc thù. Nhóm 1 (các huyện Biên giới Tri Tôn, Tịnh Biên và An Phú) thảo luận các chủ đề: Kinh tế biên giới; Hạ tầng cơ sở; Dân tộc, tôn giáo; Các vấn đề trẻ em; Buôn bán phụ nữ và trẻ em; và Môi trường. Nhóm 2 (TP Long Xuyên, TX Châu Đốc và TX Tân Châu) thảo luận các chủ đề: Hạ tầng cơ sở; Môi trường đô thị; Dịch vụ; Nghèo đô thị + Trẻ em nghèo; Lao động và việc làm. Nhóm 3 (các huyện còn lại) thảo luận các chủ đề: Sản xuất lúa; Chăn nuôi và thuỷ sản; Công nghiệp chế biến và Ứng dụng KH-CN; Lao động trẻ em; Hạ tầng nông thôn; Thuỷ lợi; Môi trường Sau khi phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và sự đe doạ, các nhóm tiến hành phân loại những phân tích trên theo thứ tự từ cao nhất đến thấp nhất. Sau đó, thảo luận để đưa ra được những giải pháp cụ thể cho từng vấn đề. Điều đáng chú ý ở đây là ngoài các vấn đề truyền thống về kinh tế, xã hội, môi trường và quản lý nhà nước, các vấn đề liên quan đến trẻ em cũng được đề cập và phân tích đầy đủ. Những điểm quan trọng nhất được các đại biểu nêu ra liên quan đến i) công tác qui hoạch, bao gồm cả qui hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, qui hoạch đô thị, được coi là 1 điểm yếu cần khắc phục; ii) qui mô sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, hiệu quả và chất lượng thấp; iii) Đầu tư xây dựng các khu công nghiệp còn dở dang, mạng lưới thương mại manh mún, nhỏ, tự phát (đặc biệt ở các khu vực biên giới); iv) Tình trạng ô nhiễm môi trường còn phức tạp; v) công tác quản lý nhà nước còn yếu; vi) Chất lượng nguồn lao động thấp chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển KTXH của tỉnh (tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn cao, chất lượng lao động kém, thiếu đội ngũ giáo viên dạy nghề, đào tạo chưa gắn với nhu cầu thị trường); vii) tình trạng trẻ em ở nông thôn lao động sớm, trẻ em nghèo bỏ học cao. Về sản xuất nông nghiệp, các đại biểu quan tâm đến các chính sách của trung ương và tỉnh, nhận thấy chúng chưa thực sự hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và đảm bảo đời sống của người nông dân: đầu tư cho nông nghiệp còn quá nhỏ so với yêu cầu, chủ trương phối hợp 4 nhà không triển khai được, người nông dân chưa được hỗ trợ khi tham gia thị trường. Họ kiến nghị chính phủ cần có chính sách đặc biệt đối với người trồng lúa, nhà nước phải tập trung đầu tư hạ tầng và giống, tỉnh có qui hoạch chi tiết cho các vùng sản xuất chuyên canh, đào tạo nghề cho nông dân, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ cho công tác bảo quản và chế biến sản phẩm sau thu hoạch của các doanh nghiệp và người dân... Về những vấn đề xã hội, các đại biểu lưu ý tình trạng giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới; phân hoá giàu nghèo có xu hướng gia tăng; Công tác chăm lo các đối tượng Bảo trợ xã hội còn nhiều khó khăn. Chưa đầu tư đúng mức cho văn hóa cơ sở (sân bóng, nhà văn hóa, điểm vui chơi giải trí). Tình trạng trẻ lao động sớm, trẻ lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; trẻ bị xâm hại…từng lúc, từng nơi vẫn khó kiểm soát ngăn chặn có hiệu quả; Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được quan tâm chăm sóc tốt. Đại biểu các nhóm đã thảo luận sôi nổi và mang tính xây dựng nhằm góp phần xây dựng bản kế hoạch 5 năm của tỉnh nhà được cụ thể, khả thi và định hướng lâu dài. Đây là một điểm mới trong công tác lập kế hoạch tại tỉnh An Giang - đại diện UBND tỉnh, các sở ngành, huyện thị, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội cùng tham gia chia sẻ ý kiến về các mục tiêu và giải pháp cho một giai đoạn phát triển mới. Sau 2 ngày làm việc khẩn trương và hiệu quả, hội thảo đã thành công tốt đẹp. Như lời chia sẻ của ông Quang, đại diện UNICEF tại TP Hồ Chí Minh ”các đại biểu đóng góp ý kiến rất tích cực và chia sẻ thẳng thắn”. Trong phần tổng kết của mình ông Dương Bình Thạnh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh và ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao sự tham gia của các đại biểu, ghi nhận các ý kiến đóng góp và giao cho nhóm tư vấn CSDP, cùng Sở KH&ĐT tổng hợp kết quả tham vấn, đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện bản kế hoạch phát tiển kinh tế-xã hội 2011-2015 của tỉnh An Giang cùng 9 bản kế hoạch ngành và huyện. Một số nội dung chính cần tập trung như sau: - Nông nghiệp và phát triển nông thôn: công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Đảm bảo thực hiện qui hoạch các vùng lúa, cá, rau quả. Nâng qui mô sản xuất, áp dụng KHCN. Xây dựng cơ chế cính sách cho các sản phẩm chiến lược và cho người sản xuất. - Công – Thương: xây dựng nền CN phục vụ cho nông nghiệp (chế biến, cơ khí), hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô. Khai thác tiềm năng kinh tế cửa khẩu và du lịch. - Giáo dục: nâng cao chất lượng GD; qui hoạch đào tạo dạy nghề (xây dựng Đại học sư phạm kỹ thuật An Giang để đào tạo giáo viên dạy nghề cho ĐBSCL) - Y tế: tình trạng cơ sở vật chất đã và đang được cải thiện đáng kể, vấn đề là thiếu đội ngũ bác sỹ, nhân viên y tế chất lượng. - Xã hội: giảm nghèo bền vững, mở rộng hỗ trợ các hộ cận nghèo; giải quyết các vấn đề liên quan đến trẻ em (lao động sớm, bỏ học, trẻ gặp hoàn cảnh khó khăn). - Quản lý nhà nước: đẩy mạnh cải cách hành chính. Cuộc hội thảo đã thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của lãnh đạo tỉnh An Giang trong lĩnh vực lập KHPTKT-XH. Đây cũng là thành công của dự án Nâng cao năng lưc, giám sát và đánh giá của UNICEF. Ngoài các vị đại biểu, sự tham gia tích cực của các thành viên nhóm kỹ thuật nòng cốt trong suốt quá trình chuẩn bị lập kế hoạch và hội thảo đã giúp họ nâng cao đáng kể năng lực của mình trong lĩnh vực lập KHPTKT-XH theo định hướng đổi mới. Trong quá trình làm việc, các chuyên gia tư vấn CSDP đã có những đóng góp tích cực và học hỏi được nhiều kiến thức và kinh nghiệm bổ ích từ các đối tác An Giang, UNICEF và Bộ KH&ĐT./.
Bài đã đăng: Điều tra cơ sở về thể chế, Chương trình Hỗ trợ Thực hiện CT135-II ở tỉnh Quảng Ngãi (ISP) Điều tra cơ sở về thể chế, Chương trình Hỗ trợ Thực hiện CT135-II ở tỉnh Quảng Ngãi (ISP), AusAID tài trợ, từ tháng 10/2008 đến tháng 1/2009. Điều tra cơ sở (baseline survey) là giai đoạn đầu tiên của đánh giá thể chế độc lập về hiệu quả hỗ trợ của ISP đối với CT135-II tại Quảng Ngãi Tập huấn nâng cao về “Theo dõi và đánh giá việc thực hiện KHPTKT-XH An Giang” cho nhóm nòng cốt Từ ngày 05 đến 07 tháng 11 năm 2009 tại thành phố Long Xuyên, nhóm tư vấn CSDP gồm các chuyên gia Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Văn Phẩm và Vũ Ngọc Anh đã thực hiện Khóa tập huấn nâng cao về “Theo dõi và Đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” cho Nhóm hỗ trợ kỹ thuật nòng cốt và một số cán bộ kế hoạch cấp tỉnh và huyện của An Giang. Tập huấn “Đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển KT-XH tại An Giang” cho các đại biểu HĐND tỉnh An Giang Từ ngày 02 đến ngày 04 tháng 11 năm 2009, nhóm tư vấn CSDP đã thực hiện Khóa tập huấn cho các đại biểu HĐND cấp tỉnh, huyện tỉnh An Giang về “Đổi mới công tác lập kế hoạch phát triển KT-XH địa phương” Hỗ trợ đổi mới công tác kế hoạch hóa tại tỉnh An Giang Trong khuôn khổ hợp đồng tư vấn “Hỗ trợ cải thiện quá trình lập kế hoạch địa phương tỉnh An Giang năm 2009” đã ký giữa Ban quản lý dự án “Nâng cao Năng lực, Giám sát và Đánh giá” (Dự án SI209-16 do UNICEF tài trợ) và Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Phát triển bền vững (CSDP), từ tháng 6 năm 2009 đến nay các chuyên gia CSDP Đánh giá thực trạng số liệu và năng lực thể chế theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên- HuếĐánh giá thực trạng số liệu và năng lực thể chế theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên- Huế, UNDP/SNV tài trợ, tháng 5 đến tháng 8/2008. Đánh giá cuối kỳ chương trình Hà Tĩnh giai đoạn 1995 – 2008 Đánh giá cuối kỳ chương trình Hà Tĩnh giai đoạn 1995 – 2008, AAV tài trợ, từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008. Đánh giá này nhằm tìm hiểu hoạt động và tác động của các chương trình của AAV trong 13 năm hoạt động tại Hà Tĩnh Khảo sát thị trường lao động và hàng hoá kết hợp đánh giá thể chế và chính sách ở tỉnh Quảng Bình Khảo sát thị trường lao động và hàng hoá kết hợp đánh giá thể chế và chính sách ở tỉnh Quảng Bình, IFAD tài trợ, từ tháng 12/2007 đến tháng 3/2008. Số lượt đọc:
175
-
Cập nhật lần cuối:
13/06/2011 11:19:44 AM | |
|
|
|
|
Số lượt truy cập: 1.002.254
Tổng số thành viên: 3 Số người trực tuyến: 116
|
|
Liên kết website |
   |
|
|
|
|