Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, tính đến tháng 9/2011, mức cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã giảm 28% so với cùng kỳ năm 2010, nhưng các nguồn vốn thực hiện lại tăng 2% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 8,2 tỷ đô la.
Việc mức cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm có nhiều nguyên nhân và nguyên nhân chính là do các công ty mẹ gặp khó khăn. Các nguồn vốn thực hiện tăng cũng chưa vội mừng mà phải xem nguồn vốn này là từ đâu. Bởi trên thực tế, khoảng 70% nguồn vốn thực hiện được chuyển từ bên ngoài vào và khoảng 30% là huy động tại chỗ, tức là vay từ các ngân hàng trong nước bằng tài sản thế chấp hình thành từ chính vốn vay… Trong 70% nguồn vốn từ bên ngoài đó, có đến 40-45% được chuyển vào Việt Nam bằng nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu.
Ngoài ra, nguồn vốn của khu vực FDI có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp FDI có thể vay từ các ngân hàng nước ngoài với lãi suất chỉ khoảng 3-4%/năm, trong khi các doanh nghiệp Việt Nam phải vay ngân hàng trong nước với lại suất gần 20%, thậm chí có thời điểm còn cao hơn. Điều này cho thấy, có thể các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh các măt hàng nông sản vốn là lợi thế của Việt Nam có thể mất lợi thế ngay trên đất nước mình. Đây là một điều đáng báo động.
Mặt khác, các doanh nghiệp FDI luôn được ưu ái hơn doanh nghiệp trong nước rất nhiều. Cách kêu gọi đầu tư nước ngoài bằng mọi giá được không ít địa phương xem là thành tích, phần nào nói lên điều này. Khi những doanh nghiệp FDI nay vỡ nợ, ông chủ bỏ trốn để lại tài sản thế chấp không còn mấy giá trị thì ai, đơn vị nào sẽ chịu trách nhiệm?
Chín tháng đầu năm 2011, các ngành công nghiệp thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất thuộc lĩnh vực chế biến và sản xuất, với 300 dự án mới đăng ký, tổng vốn trên 4,9 tỷ đô la, chiếm gần một nửa tổng số vốn đăng ký FDI vào Việt Nam. Về bản chất Việt Nam kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm mục đích thu hút dòng vốn, thu hút sự chuyển giao công nghệ, giải quyết việc làm.
Xét về hiệu quả đầu tư và chỉ số thay đổi công nghệ trong 10 năm (1999-2009), ICOR của khu vực Nhà nước, tư nhân và FDI lần lượt là: 7,76; 3,54; và 7,91. Nhìn ra thế giới, ICOR trung bình của nhóm tăng trưởng cao chỉ có 3,6. Khối FDI có chỉ số ICOR cao nhất và điều đó chứng tỏ hiệu quả là thấp nhất.
Về khía cạnh chuyển giao công nghệ, giai đoạn 2004-2009, hệ số TFP của các khu vực kinh tế nhà nước, tư nhân và doanh nghiệp FDI lần lượt là: 8,6 ; 3,1 và -17,6. Theo nghiên cứu này, hệ số TFP của khu vực kinh tế Nhà nước cao nhất, mặc dù vốn đầu tư rót vào khu vực này nhiều (đầu tư không hiệu quả) nhưng sự chuyển giao công nghệ là có thật. Trong khi ở khối FDI, chỉ số này lại âm (-17,6). Khảo sát ở nhiều doanh nghiệp FDI cho thấy máy móc, công nghệ được đối tác nhập vào Việt Nam đều cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết. Như vậy, sự tăng trưởng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu nhờ vào các yếu tố khác, ví dụ, lao động rẻ, chứ không phải do công nghệ.
Ngoài ra, FDI còn là sự trông đợi tạo thêm việc làm. Nhưng với năng suất nhân tố tổng hợp âm của khu vực này phần nào cũng nói lên sự lạm dụng lạo động giá rẻ của Việt Nam. Năm thu hút được nhiều lao động nhất cung chỉ khoảng 3% trong tổng số lao động.
Hơn nữa, về dòng vốn, theo số liệu trong niên giám Thống kê năm 2010 cho thấy, thu nhập thuần túy (chênh lệch giữa chỉ tiêu thu nhập Quốc gia (GNI) và tổng sản phẩm trong nước (GDP)) từ nước ngoài giảm (âm) liên tục từ 2000-2010, từ hơn 6.000 tỷ năm 2000 đến trên 82 ngàn tỷ năm 2010. Như vậy, mỗi năm bình quân phía Việt Nam phải chi trả sở hữu ra nước ngoài tính theo giá hiện hành tăng trung bình khoảng 30% và xấp xỉ 20% theo giá so sánh, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 2000-2010 vào khoảng 7,3%. Vấn đề luồng tiền ra tăng lên nhanh chóng theo thời gian có phần đóng góp không nhỏ của khu vực FDI.
Như vậy, các kỳ vọng về dòng vốn, về công nghệ, về thu hút lao động không như mong đợi. Trái lại, khu vực này lại đóng góp cho quá trình nhập siêu của Việt Nam ngày một mạnh hơn. Diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều bãi biển rơi vào tay các ông chủ nước ngoài và như vậy những người dân bản địa đã không còn được thư dãn, nghỉ ngơi trên chính quê hương mình... trong khi hầu hết các doanh nghiệp FDI đều báo lỗ. Như vậy, thuế thu nhập Doanh nghiệp Nhà nước không thu được đồng nào mà thuế VAT lại được ưu đãi trong một thời gian dài hoặc bằng không.
Bùi Trinh.
Bài đã đăng:
Hệ thống các tài khoản quốc gia: ứng dụng và một số bất cập ở Việt Nam
Hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA - System of National Accounts) của Liên Hợp Quốc được các nhà kinh tế hàng đầu thế giới đứng đầu là Richard Stone (giải Nobel về Kinh tế năm 1984) đưa ra. Hệ thống này tập hợp một cách hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng nhằm mô tả và phân tích các các hiện tượng kinh tế cơ bản. SNA mô tả quá trình lưu chuyển sản phẩm và tiền tệ trong một quốc gia. Nó là một tập hợp đầy đủ, phù hợp và linh hoạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, những chỉ tiêu này được xây dựng trên các khái niệm, định nghĩa và quy tắc chuẩn mực được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới...
Hiệu quả đầu tư- một trong những nguyên nhân gây nhập siêu cao
Xuất nhập khẩu cấu thành nên GDP không chỉ có xuất nhập khẩu hàng hóa
Trong một nền kinh tế, khi nói đến xuất khẩu, nhập khẩu phải được hiểu là xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đối với nhập khẩu sản phẩm vật chất (goods)
Xuất nhập khẩu Việt Nam - Xuất ảo nhập thật (Bài phỏng vấn của PV. Hải Vân với chuyên gia kinh tế Bùi Trinh)Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hạng cao trên thế giới, nhưng theo ông Bùi Trinh thuộc Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam: “Giá trị thu về rất thấp, bởi chúng ta vẫn xuất khẩu theo cơ cấu xuất ảo, nhập thật”.
Xin đừng coi nhẹ phát triển Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản
Hiện nay, nếu đọc nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trong cả nước thì người ta dễ dàng nhận thấy một điểm nổi bật chung là xu thế “phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP
Tỷ giá và lạm phát: Hai vấn đề của nền kinh tế
Thực tế cho thấy, việc đầu tư kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế lệch lạc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến lạm phát. Khi bỏ lượng tiền rất lớn, trên 40% GDP, để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ tăng lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền - hàng.
Không chỉ có tỷ giá
Gần đây một số chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay của kinh tế Việt Nam là tỷ giá. Nguyên nhân khiến đồng tiền Việt Nam mất giá là do nền kinh tế bị lạm phát liên tục và ở mức khá cao trong năm vừa qua. Như vậy tỷ giá tăng là hệ quả của lạm phát chứ không phải nguyên nhân.
Khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế
Thông thường khi phân tích tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn thì lý thuyết của Keynes và Solow thường được đưa ra như một minh chứng nhằm phân tích và dự báo nền kinh tế. Lý thuyết của Keynes lý giải và phân tích nền kinh tế trong ngắn hạn và ông dường như không quan tâm đến tương lai xa; ngoài ra các nhân tử kiểu Keynes (Keynes-Leontief) đôi khi cũng chứa đựng những rủi ro, chẳng hạn khi nghiên cứu về liên vùng có những trường hợp (vùng) chi đầu tư của Nhà nước không làm tăng tổng cầu một cách tương xứng, lúc này nhân tử Keynes nhỏ hơn 1, điều này có nghĩa khi tăng một đồng đầu tư sẽ không thu lại được một đồng ở phía cung.
Số lượt đọc:
90
-
Cập nhật lần cuối:
18/10/2011 09:46:48 AM