|
| Trang chủ
|
Ấn phẩm
|
Bài viết | Xuất nhập khẩu Việt Nam - Xuất ảo nhập thật (Bài phỏng vấn của PV. Hải Vân với chuyên gia kinh tế Bùi Trinh) | Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hạng cao trên thế giới, nhưng theo ông Bùi Trinh thuộc Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam: “Giá trị thu về rất thấp, bởi chúng ta vẫn xuất khẩu theo cơ cấu xuất ảo, nhập thật”. * Lấy xuất khẩu (XK) làm đòn bẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng ngay trong những năm Việt Nam có mức XK tăng trưởng ngoạn mục vẫn ẩn chứa bất cập? - Tổng thể nền kinh tế cho thấy, để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cuối cùng sẽ kích thích 1,44 đơn vị nhập khẩu (NK). Về trị giá XK, theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại thương, gồm hai nhóm chính là hàng hóa thô và hàng hóa qua chế biến. Nhập siêu tăng cao những năm qua, quý I/2011, nhập siêu trên 3 tỷ USD (nguồn: Tổng cục Thống kê). Về cơ bản, nhập siêu tăng cao là do nhập nguyên liệu cho sản xuất, chế biến hàng XK. Điều này cho thấy, cơ cấu XK thay đổi tương đối rõ rệt, nếu năm 1995, tỷ trọng XK hàng hóa thô là 67,2%, thì những năm gần đây chỉ còn khoảng 45%. Thoạt nhìn, đây là một tín hiệu đáng mừng, XK của Việt Nam đã chuyển dịch từ xuất thô sang xuất sản phẩm chế biến, tạo hàm lượng giá trị gia tăng cao. Nhìn sâu vào nhóm hàng xuất thô có tỷ trọng cao nhất là lương thực, thực phẩm và nhóm “nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên quan” sẽ thấy, tỷ trọng của nhóm này giảm cơ bản. Nguyên nhân là do nhóm “lương thực, thực phẩm” giảm từ 38% năm 1995 xuống còn 19% những năm gần đây trong khi nhóm “nhiên liệu” lại hầu như không giảm. * Kim ngạch XK các mặt hàng may mặc, da giày, điện tử, phần mềm, đồ gỗ chiếm tỷ lệ cao, nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc ta đã chuyển cho nước ngoài phần lớn lợi nhuận trong chuỗi giá trị được tạo ra từ sản xuất đến XK? - Tỷ trọng XK của nhóm hàng chế biến tăng khá mạnh, từ 33% năm 1995 đến trên 55% những năm gần đây. Tuy nhiên, hàm lượng giá trị gia tăng của các nhóm hàng này trong nền kinh tế rất thấp, chỉ khoảng 23% giá trị sản xuất, trong đó, hàng dệt may, thép (chỉ chiếm khoảng 9 - 10% trong tổng giá trị sản xuất), nhóm da giày, tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất cũng chỉ vào khoảng 15 - 18%. Nếu xem xét kỹ hơn cơ cấu của xuất nhập khẩu và chỉ số lan tỏa về NK có thể thấy, ngành dệt may và da giày chiếm cao nhất, xấp xỉ 22% trong tổng kim ngạch XK. Nhưng những ngành chiếm tỷ trọng XK cao cũng là những ngành có hệ số lan tỏa về NK cao nhất, chẳng hạn như dệt may và da giày có hệ số lan tỏa về NK là 1,35. Điều này có nghĩa những ngành này kích thích NK rất mạnh. Về bản chất, nhóm hàng qua chế biến có hàm lượng gia công cao. Chỉ số lan tỏa về NK cao hơn so với mức độ ảnh hưởng lan tỏa chung khá nhiều. Ví dụ, nếu mức độ lan tỏa chung về nhập khẩu là 1, thì mức độ của nhóm ngành này khoảng 1,3. Điều quan trọng hơn cả là hàm lượng NK trong giá trị hàng XK trong giai đoạn hiện nay tăng mạnh so với giai đoạn 1995. Tốc độ tăng về mức độ lan tỏa của XK đến NK tăng 23% trong giai đoạn hiện nay so với giai đoạn 1995. * Người ta vẫn nói một cách “khách quan”, khủng hoảng toàn cầu là một trong những nguyên nhân XK không bền vững. Ý kiến của ông? - Như tôi đã nói, việc thay đổi tỷ trọng về XK từ khu vực xuất khẩu thô sang XK đã qua chế biến chỉ khiến phải NK nhiều hơn. Vấn đề là làm sao thay đổi cơ cấu sản xuất để sản phẩm đã qua chế biến thực sự là công nghiệp chế biến chứ không chỉ là sắp xếp phân tổ. Trong bối cảnh chống đô la hóa và lạm phát lên cao cũng tiềm ẩn một rủi ro khác: Các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa XK, nhất là hàng nông sản, có thể mất lợi thế cạnh tranh. Nói thế để thấy vấn đề quan trọng của nền kinh tế, ngoài chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa còn cần những chính sách dài hơi hơn, đó là cải thiện hiệu quả sản xuất và thay đổi cấu trúc kinh tế. * Xin cảm ơn ông!
HẢI VÂN (thực hiện)
Bài đã đăng: Xin đừng coi nhẹ phát triển Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Hiện nay, nếu đọc nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trong cả nước thì người ta dễ dàng nhận thấy một điểm nổi bật chung là xu thế “phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP Tỷ giá và lạm phát: Hai vấn đề của nền kinh tế Thực tế cho thấy, việc đầu tư kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế lệch lạc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến lạm phát. Khi bỏ lượng tiền rất lớn, trên 40% GDP, để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ tăng lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền - hàng. Không chỉ có tỷ giá Gần đây một số chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay của kinh tế Việt Nam là tỷ giá. Nguyên nhân khiến đồng tiền Việt Nam mất giá là do nền kinh tế bị lạm phát liên tục và ở mức khá cao trong năm vừa qua. Như vậy tỷ giá tăng là hệ quả của lạm phát chứ không phải nguyên nhân. Khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Thông thường khi phân tích tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn thì lý thuyết của Keynes và Solow thường được đưa ra như một minh chứng nhằm phân tích và dự báo nền kinh tế. Lý thuyết của Keynes lý giải và phân tích nền kinh tế trong ngắn hạn và ông dường như không quan tâm đến tương lai xa; ngoài ra các nhân tử kiểu Keynes (Keynes-Leontief) đôi khi cũng chứa đựng những rủi ro, chẳng hạn khi nghiên cứu về liên vùng có những trường hợp (vùng) chi đầu tư của Nhà nước không làm tăng tổng cầu một cách tương xứng, lúc này nhân tử Keynes nhỏ hơn 1, điều này có nghĩa khi tăng một đồng đầu tư sẽ không thu lại được một đồng ở phía cung. Ảnh hưởng của các phương án tăng giá điện Theo xác nhận của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào với báo chí, Chính phủ đã phê duyệt mức tăng giá điện bình quân từ 1-3-2010 là 6,8%. Hiện hai bộ Tài chính và Công Thương đang soạn thảo thông tư quy định chi tiết để cố gắng công bố trong tuần này. Bài viết này nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những tác động chính của việc tăng giá điện bằng cách phân tích cả ba phương án được trình Chính phủ. Lúa gạo Việt Nam – Từ mũi đột phá của đổi mới đến ông Lớn của thị trường thế giới Công cuộc đổi mới và mở cửa Việt Nam những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 được đột phá bằng chính sách đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn. Trong nông nghiệp, chính những kỳ tích của lúa gạo, ngành hàng có vị trí chiến lược quốc gia đã giúp Việt Nam vững tâm dần dần đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế tập trung để đi tiếp những bước dò dẫm trên con đường đổi mới. Tăng trưởng và tồn kho GDP theo tổng cầu cuối cùng được cấu thành bởi các yếu tố tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho (cơ quan Thống kê Việt Nam gọi là tích lũy tài sản lưu động), xuất khẩu trừ nhập khẩu. Năm 2009 theo Tổng cục Thống kê, GDP tăng trưởng 5,32% trong đó tổng tích lũy tăng 4,31%, tăng trưởng về tích lũy thấp hơn tăng trưởng về GDP là do tăng trưởng về tồn kho giảm -26,18% và tăng trưởng về tích lũy tài sản cố định tăng đến 8,73%. Số lượt đọc:
64
-
Cập nhật lần cuối:
02/06/2011 10:35:15 AM | |
|
|
|
|
Số lượt truy cập: 1.002.168
Tổng số thành viên: 3 Số người trực tuyến: 134
|
|
Liên kết website |
   |
|
|
|
|
|
|
|