|
| Trang chủ
|
Ấn phẩm
|
Bài viết | Xin đừng coi nhẹ phát triển Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản | Hiện nay, nếu đọc nghị quyết và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh trong cả nước thì người ta dễ dàng nhận thấy một điểm nổi bật chung là xu thế “phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tăng tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực Công nghiệp-Xây dựng (KV2) và khu vực Dịch vụ (KV3), giảm tỷ lệđóng góp của khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản (KV1)…”. Xu thế này, nếu được áp dụng một cách hợp lý, là phù hợp với định hướng phát triển “công nghiệp hóa và hiện đại hóa” của đất nước, cũng như với xu thế chung của thế giới.
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Thực ra theo thông lệ quốc tế, đối với một tỉnh “tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh” không được gọi là GDP mà thường được gọi là GRP (Gross Regional Product) hoặc GPP (Gross Provincial Product). Do thói quen của Việt Nam tất cả các cấp từ Trung ương, đến các ngành và tỉnh thậm chí huyện cũng là GDP tất.

Điều đáng bàn ở đây là lãnh đạo các địa phương các cấp cần nhận thức rõ địa phương mình đang ở đâu, những nguồn lực có sẵn và thế mạnh tương đối của mình là gì v.v, từ đó đưa ra những định hướng phát triển hợp lý, tránh “công nghiệp hóa và hiện đại hóa” một cách máy móc, theo phong trào và kém hiệu quả. Không phải tỉnh nào cũng nhất thiết phải giảm nhanh tỷ lệ đóng góp của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản vào GDP của tỉnh. Những tỉnh và thành phố có điều kiện phát triển công nghiệp và dịch vụ (vị trí địa lý thuận lợi như đầu mối giao thông, gần các thành phố lớn, cửa khẩu biên giới; có sân bay và cảng biển; sản xuất nhiều sản phẩm hàng hóa qui mô lớn; thu hút nhiều FDI v.v) có thể mạnh dạn tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm nhanh tỷ lệ đóng góp của KV1 vào GDP của tỉnh mình. Tuy nhiên, những tỉnh nghèo, tỉnh miền núi chủ yếu dựa vào ngân sách do trung ương cấp nên tiếp tục lấy nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản là trọng tâm của phát triển, kết hợp với đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp (sản xuất giống, phân bón, công cụ sản xuất, chế biến nông sản và thủy sản v.v). Cần tránh tình trạng “sốt ruột” muốn đốt cháy giai đoạn phát triển, tăng trưởng nhanh bằng mọi giá. Đặc biệt cần khắc phục tình trạng nơi nơi mở khu/cụm công nghiệp và trung tâm thương mại đòi hỏi những nguồn vốn đầu tư lớn từ ngân sách hạn hẹp của địa phương. Hàm lượng giá trị gia tăng chiếm trong giá trị sản xuất công nghiệp hóa kiểu này rất thấp (chỉ khoảng 20 – 25%), trong khi nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất ở bị mất đi, sản lượng nông nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, an sinh xã hội và an toàn lương thực. Hệ quả của các chủ trương/quyết định thiếu đánh giá và phân tích tình hình thị trường một cách khoa học là tình trạng nhiều khu/cụm công nghiệp bị xây dựng dang dở do thiếu vốn và đầu tư dàn trải, hoặc những nơi đã xây xong cơ sở hạ tầng nhưng chỉ thu hút được rất ít nhà đầu tư. Điều này dẫn đến tình trạng lãng phí, trong khi khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản rất cần vốn đầu tư thì lại chỉ được phân bổ hạn chế. Có thể quan sát điều này qua tổng hợp ngân sách nhà nước đầu tư cho khu vực cho khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản ngày càng giảm: từ 7,5% tổng vốn đầu tư năm 2005 xuống 6,26% năm 2009 (số liệu Tổng cục Thống kê năm 2009). Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế, về cơ bản Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp. Trên 70% dân số và ¾ người lao động đang sống ở vùng nông thôn. Trong cơ cấu nền kinh tế quốc gia khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy chỉ đóng góp khoảng 15 - 16% vào GDP của Việt Nam, nhưng lại sử dụng tới 53.9% lực lượng lao động. Theo báo cáo của Chính phủ, trong số 18 sản phẩm XK chủ lực năm 2010 đạt doanh số trên 1 tỷ USD có đóng góp đáng kể của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản. Ví dụ: xuất khẩu thủy sản đứng thứ ba với gần 5 tỷ USD, gỗ và sản phẩm gỗ đứng thứ sáu với 3,4 tỷ USD, gạo đứng thứ 7 với 3,2 tỷ USD. Những mặt hàng xuất khẩu quan trọng khác của khu vực kinh tế này là cao su 2,4 tỷ USD; cà phê 1,8 tỷ USD; hạt điều trên 1,1 tỷ USD. Trước mắt, từ nay (năm 2011) đến năm 2015, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vẫn là một ngành kinh tế quan trọng, đặc biệt đối với các tỉnh nghèo với đại đa số dân số sống ở vùng nông thôn. Do đó, nếu các chính quyền địa phương quá tập trung đầu tư vào công nghiệp và dịch vụ mà không quan tâm đúng mức đến phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản thì sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống của đại đa số người dân địa phương. Phát triển nông nghiệp bền vững và nông thôn mới cần được coi là trọng tâm của đa số các ỉnh trong cả nước. Cần tránh tư duy phát triển đơn giản: coi GDP là chỉ báo vạn năng và duy nhất. Không nên coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng tỷ trọng KV2 và KV3 trong GDP của tỉnh. Trên thế giới, có những mô hình phát triển thành công dựa trên phát triển nông nghiệp, kết hợp đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ (cung cấp đầu vào, chế biến sản phẩm đầu ra), tổ chức người nông dân vào các hiệp hội để tăng hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh trên thị trường như Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc, Hà Lan, Niu-di-lân v.v. Ngoài ra, nông nghiệp cũng là khu vực được mong đợi sẽ tạo ra sản phẩm mới quan trọng trong tương lai: chất đốt sinh học. Câu cao dao “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” đối với đa số các tỉnh ở Việt Nam phải chăng vẫn còn nguyên giá trị?
Tác giả: Vũ Ngọc Anh, Bùi Trinh, Nguyễn Văn Huân – Trung Tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững, Viện KHXH Việt Nam
(SGTT đã đăng bài viết này ngày 03/05/2011 với tiêu đề “Đừng chuyển dịch kinh tế bằng mọi giá” ) Bài đã đăng: Tỷ giá và lạm phát: Hai vấn đề của nền kinh tế Thực tế cho thấy, việc đầu tư kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế lệch lạc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến lạm phát. Khi bỏ lượng tiền rất lớn, trên 40% GDP, để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ tăng lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền - hàng. Không chỉ có tỷ giá Gần đây một số chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay của kinh tế Việt Nam là tỷ giá. Nguyên nhân khiến đồng tiền Việt Nam mất giá là do nền kinh tế bị lạm phát liên tục và ở mức khá cao trong năm vừa qua. Như vậy tỷ giá tăng là hệ quả của lạm phát chứ không phải nguyên nhân. Khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Thông thường khi phân tích tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn thì lý thuyết của Keynes và Solow thường được đưa ra như một minh chứng nhằm phân tích và dự báo nền kinh tế. Lý thuyết của Keynes lý giải và phân tích nền kinh tế trong ngắn hạn và ông dường như không quan tâm đến tương lai xa; ngoài ra các nhân tử kiểu Keynes (Keynes-Leontief) đôi khi cũng chứa đựng những rủi ro, chẳng hạn khi nghiên cứu về liên vùng có những trường hợp (vùng) chi đầu tư của Nhà nước không làm tăng tổng cầu một cách tương xứng, lúc này nhân tử Keynes nhỏ hơn 1, điều này có nghĩa khi tăng một đồng đầu tư sẽ không thu lại được một đồng ở phía cung. Ảnh hưởng của các phương án tăng giá điện Theo xác nhận của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào với báo chí, Chính phủ đã phê duyệt mức tăng giá điện bình quân từ 1-3-2010 là 6,8%. Hiện hai bộ Tài chính và Công Thương đang soạn thảo thông tư quy định chi tiết để cố gắng công bố trong tuần này. Bài viết này nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những tác động chính của việc tăng giá điện bằng cách phân tích cả ba phương án được trình Chính phủ. Lúa gạo Việt Nam – Từ mũi đột phá của đổi mới đến ông Lớn của thị trường thế giới Công cuộc đổi mới và mở cửa Việt Nam những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 được đột phá bằng chính sách đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn. Trong nông nghiệp, chính những kỳ tích của lúa gạo, ngành hàng có vị trí chiến lược quốc gia đã giúp Việt Nam vững tâm dần dần đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế tập trung để đi tiếp những bước dò dẫm trên con đường đổi mới. Tăng trưởng và tồn kho GDP theo tổng cầu cuối cùng được cấu thành bởi các yếu tố tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho (cơ quan Thống kê Việt Nam gọi là tích lũy tài sản lưu động), xuất khẩu trừ nhập khẩu. Năm 2009 theo Tổng cục Thống kê, GDP tăng trưởng 5,32% trong đó tổng tích lũy tăng 4,31%, tăng trưởng về tích lũy thấp hơn tăng trưởng về GDP là do tăng trưởng về tồn kho giảm -26,18% và tăng trưởng về tích lũy tài sản cố định tăng đến 8,73%. Số lượt đọc:
167
-
Cập nhật lần cuối:
27/06/2011 03:06:37 PM | |
|
|
|
|
Số lượt truy cập: 1.002.166
Tổng số thành viên: 3 Số người trực tuyến: 137
|
|
Liên kết website |
   |
|
|
|
|
|
|
|