Đang tải dữ liệu...

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HỢP TÁC HIỆU QUẢ VÌ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Trang chủGiới thiệuTin tức - Sự kiệnHoạt độngNghiên cứu chuyên đềẤn phẩmCập nhật chính sáchCơ sở dữ liệuLiên hệ
Trang chủ  |  Ấn phẩm  |  Bài viết

Tỷ giá và lạm phát: Hai vấn đề của nền kinh tế

Thực tế cho thấy, việc đầu tư kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế lệch lạc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến lạm phát. Khi bỏ lượng tiền rất lớn, trên 40% GDP, để đầu tư mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản, thì lượng cung tiền sẽ tăng lên, làm trầm trọng thêm sự mất cân đối tiền - hàng.

Theo số liệu của cơ quan thống kê, nếu năm 2000 bỏ ra một đồng thì có khoảng 0,7 đồng tạo thành tài sản và 0,3 đồng không tạo thành tài sản (tích lũy gộp tài sản).
Nhưng những năm gần đây, đầu tư 1 đồng thì chỉ còn 0,66 đồng tạo thành tích lũy tài sản và số tiền không tạo thành tài sản tăng lên 0,34 đồng. Như vậy, lượng cung tiền sẽ tăng lên do lượng tiền bỏ ra nhằm mục đích đầu tư lại không đi vào đầu tư.
Thâm hụt thương mại lớn và kéo dài là do nhu cầu nhập khẩu ngày càng lớn. Nhìn từ tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất sẽ thấy hiệu quả sản xuất đang giảm sút nhanh chóng. Nếu những năm 2000 tỷ lệ giữa giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất vào khoảng 45 - 46%, thì những năm gần đây đã giảm xuống 37 - 38%.
Điều này có nghĩa, trong 1 đồng giá trị sản xuất chỉ có 0,37 hoặc 0,38 đồng là giá trị gia tăng GDP - mức thấp nhất thế giới. Những năm gần đây, hơn 90% nhập siêu của Việt Nam là từ Trung Quốc.
Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm xuất khẩu ngày càng tăng, khoảng 17%. Việc phá giá đồng tiền Việt Nam đôi khi lại kích thích xuất khẩu, làm lợi cho nước khác. Ngoài ra, với nhu cầu nhập khẩu lớn và hiệu quả đầu tư (sản xuất) kém, hiển nhiên sẽ dẫn đến căng thẳng về tỷ giá hối đoái.
Khi Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), dòng vốn FDI đổ vào khá lớn. Nhưng khi nắm trong tay một lượng tiền lớn mà quản lý không tốt, thì sẽ có nhiều chuyện xảy ra chứ không chỉ là lạm phát.
Theo tính toán, khu vực FDI cũng có hiệu quả đầu tư qua hệ số ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) rất thấp, chỉ tương đương khu vực nhà nước. Trong giai đoạn 2006 - 2010, nếu hệ số ICOR của khu vực nhà nước vào khoảng 10 thì khu vực FDI là trên 9. Hai khu vực có nguồn vốn lớn nhưng mang lại hiệu quả kém sẽ có một lượng tiền lớn trong lưu thông.
Mặt khác, ở khu vực FDI, ngoài một số vấn đề báo chí đề cập gần đây, như chuyển giá chẳng hạn, còn một vấn đề quan trọng khác nữa là khi các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, hầu hết đều nhập nguyên liệu để sản xuất.
Các sản phẩm làm ra chứa hàm lượng lớn các yếu tố nhập khẩu. Do đó, dù sản phẩm được xuất khẩu hay tiêu dùng trong nội địa thì chúng ta vẫn chỉ đóng vai trò gia công với giá rẻ mà thôi.
Nội lực của nền kinh tế Việt Nam qua chỉ tiêu để dành ngày càng giảm, từ 36% trong những năm 2000 xuống còn khoảng 28% năm 2009, trong khi “vốn đầu tư” vẫn chiếm tỷ trọng cực lớn trong GDP, trên 40%.
Hiện, nhu cầu về đô la Mỹ còn cao, nảy sinh từ tình trạng lạm phát kéo dài và tâm lý người dân lo lắng về sự bất ổn của đồng tiền Việt Nam. Vì vậy, khi chưa thể ngay lập tức có những thay đổi về hiệu quả đầu tư, việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 11 về cắt giảm đầu tư công trong lúc này là thích hợp và cần thiết.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta phải thực hiện Nghị quyết này nhịp nhàng, đồng bộ với các chính sách phát triển kinh tế khác. Chỉ như vậy mới có thể từng bước làm tăng hiệu quả của đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế.


BÙI TRINH

Trung tâm Nghiên cứu chính sách phát triển bền vững - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Nguồn: http://doanhnhansaigon.vn/online/tin-tuc/ban-doc/2011/04/1053282/ty-gia-va-lam-phat-hai-van-de-cua-nen-kinh-te/

Bài đã đăng:
Số lượt đọc:  54  -  Cập nhật lần cuối:  25/04/2011 10:33:58 AM
Khách hàng/ đối tác
Số lượt truy cập: 1.002.162
Tổng số thành viên: 3
Số người trực tuyến: 136
Liên kết website