|
| Trang chủ
|
Ấn phẩm
|
Bài viết | Không chỉ có tỷ giá | Gần đây một số chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề lớn nhất hiện nay của kinh tế Việt Nam là tỷ giá. Nguyên nhân khiến đồng tiền Việt Nam mất giá là do nền kinh tế bị lạm phát liên tục và ở mức khá cao trong năm vừa qua. Như vậy tỷ giá tăng là hệ quả của lạm phát chứ không phải nguyên nhân.

Dễ nhận thấy biểu hiện cuối cùng của lạm phát là sự mất cân đối tiền - hàng, tức hàng hóa sản xuất ra không tương xứng với lượng tiền lưu thông. Đầu tư kém hiệu quả và cơ cấu kinh tế lệch lạc là nguyên nhân sâu xa dẫn đến lạm phát. Khi bỏ một lượng tiền lớn ra để đầu tư (trên 40% GDP) mà chỉ một phần trong đó tạo ra tài sản thì lượng cung tiền tất yếu cũng lớn lên. Theo số liệu của cơ quan thống kê, vào năm 2000 nếu bỏ ra 1 đồng thì có khoảng 0,7 đồng tài sản và 0,3 đồng không tạo thành tài sản (tích lũy gộp tài sản), nhưng những năm gần đây khi bỏ ra 1 đồng đầu tư thì chỉ có 0,66 đồng tạo thành tích lũy tài sản, còn lại 0,34 đồng không tạo thành tài sản. Như vậy lượng cung tiền tăng là điều đương nhiên. Xét về hiệu quả đầu tư từ hệ số tăng vốn và giá trị gia tăng (thường gọi là ICOR) thì giai đoạn 2000-2005 tỷ lệ này vào khoảng 5, nhưng đến 2006-2010 tăng lên mức xấp xỉ 7 (bỏ ra 7 đồng vốn mới tạo ra 1 đồng giá trị gia tăng). Đặc biệt với khu vực nhà nước tỷ lệ này vào khoảng trên 10. Trong khi đó, hệ số ICOR của khu vực tư nhân (không bao gồm các doanh nghiệp FDI) vào khoảng 5 (thời gian trước hệ số ICOR của khu vực ngoài nhà nước chỉ vào khoảng 3). Như vậy có thể thấy hiệu quả đầu tư chung giảm đáng kể, đặc biệt ở khu vực nhà nước. Nhìn từ tỷ lệ giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất cũng thấy hiệu quả sản xuất giảm sút nhanh chóng. Nếu năm 2000 tỷ lệ giữa giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất vào khoảng 45-46% thì những năm gần đây con số này chỉ là 37-38%. Điều này có nghĩa là trong một đồng giá trị sản xuất chỉ có 0,37 hoặc 0,38 đồng là giá trị gia tăng (GDP). Tỷ lệ này của Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới. Vấn đề khác của nền kinh tế Việt Nam là thâm hụt thương mại ngày càng lớn và kéo dài do nhập khẩu tăng cao. Trong những năm gần đây, nhập khẩu của Việt Nam cơ bản là để đáp ứng nhu cầu sản xuất (hơn 90%) ra sản phẩm cuối cùng. Theo tính toán, trong giai đoạn hiện nay nhu cầu nhập khẩu cho sản xuất để xuất khẩu ngày càng tăng, do đó việc phá giá đồng tiền Việt Nam đôi khi lại kích thích xuất khẩu (làm lợi) cho nước khác hơn nước mình. Với nhu cầu nhập khẩu lớn và hiệu quả đầu tư (sản xuất) kém, hiển nhiên sẽ dẫn đến căng thẳng về tỷ giá. Một vấn đề nữa không thể không nhắc đến là nội lực của nền kinh tế Việt Nam qua chỉ tiêu để dành ngày càng giảm (từ 36% trong những năm 2000 xuống còn khoảng 28% trong năm 2009) trong khi vốn đầu tư vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên 40%). Qua đó có thể thấy vấn đề đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam không chỉ là “tuyên chiến với vàng và đô la hóa” mà cần cắt giảm đầu tư công, tăng hiệu quả đầu tư và thay đổi cơ cấu kinh tế.
Bùi Trinh - Vũ Ngọc Anh (CSDP)
Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/51264/Khong-chi-co-ty-gia.html Bài đã đăng: Khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Thông thường khi phân tích tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn thì lý thuyết của Keynes và Solow thường được đưa ra như một minh chứng nhằm phân tích và dự báo nền kinh tế. Lý thuyết của Keynes lý giải và phân tích nền kinh tế trong ngắn hạn và ông dường như không quan tâm đến tương lai xa; ngoài ra các nhân tử kiểu Keynes (Keynes-Leontief) đôi khi cũng chứa đựng những rủi ro, chẳng hạn khi nghiên cứu về liên vùng có những trường hợp (vùng) chi đầu tư của Nhà nước không làm tăng tổng cầu một cách tương xứng, lúc này nhân tử Keynes nhỏ hơn 1, điều này có nghĩa khi tăng một đồng đầu tư sẽ không thu lại được một đồng ở phía cung. Ảnh hưởng của các phương án tăng giá điện Theo xác nhận của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào với báo chí, Chính phủ đã phê duyệt mức tăng giá điện bình quân từ 1-3-2010 là 6,8%. Hiện hai bộ Tài chính và Công Thương đang soạn thảo thông tư quy định chi tiết để cố gắng công bố trong tuần này. Bài viết này nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những tác động chính của việc tăng giá điện bằng cách phân tích cả ba phương án được trình Chính phủ. Lúa gạo Việt Nam – Từ mũi đột phá của đổi mới đến ông Lớn của thị trường thế giới Công cuộc đổi mới và mở cửa Việt Nam những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 được đột phá bằng chính sách đổi mới trong nông nghiệp, nông thôn. Trong nông nghiệp, chính những kỳ tích của lúa gạo, ngành hàng có vị trí chiến lược quốc gia đã giúp Việt Nam vững tâm dần dần đoạn tuyệt với cơ chế kinh tế tập trung để đi tiếp những bước dò dẫm trên con đường đổi mới. Tăng trưởng và tồn kho GDP theo tổng cầu cuối cùng được cấu thành bởi các yếu tố tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản cố định, thay đổi tồn kho (cơ quan Thống kê Việt Nam gọi là tích lũy tài sản lưu động), xuất khẩu trừ nhập khẩu. Năm 2009 theo Tổng cục Thống kê, GDP tăng trưởng 5,32% trong đó tổng tích lũy tăng 4,31%, tăng trưởng về tích lũy thấp hơn tăng trưởng về GDP là do tăng trưởng về tồn kho giảm -26,18% và tăng trưởng về tích lũy tài sản cố định tăng đến 8,73%. Số lượt đọc:
59
-
Cập nhật lần cuối:
25/04/2011 10:30:17 AM | |
|
|
|
|
Số lượt truy cập: 1.002.158
Tổng số thành viên: 3 Số người trực tuyến: 137
|
|
Liên kết website |
   |
|
|
|
|
|
|
|